Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

TẢN MẠN VỀ PHONG BÌ
Trong cuộc sống thời kinh tế thị trường ngày nay có nhiều vấn đề nảy sinh khiến chúng ta phải suy nghĩ, ở đây tôi muốn bàn đến lĩnh vực phong bì, phong bao. Thực ra văn hóa phong bì có từ rất lâu rồi nhưng nó chỉ xuất hiện với nghĩa cử cao đẹp của cha ông ta, bằng cách trả ơn hay giúp đỡ nhau những lúc khó khăn trong cuộc sống.
Trở lại với hiện tại, văn hóa phong bì không còn dừng lại ở nghĩa cử đó mà nó còn biến tướng thành nhiều hình thức khác nhau tinh vi, nguy hiểm hơn cho xã hội. Người ta lợi dụng phong bì sử dụng bằng nhiều mục đích khác nhau, thuộc nhiều nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đơn cử trong lĩnh vực giáo dục: Thời xưa, cả thầy lẫn trò đều khó khăn như nhau, thậm chí phải cưu mang giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau phấn đấu để học tốt, dạy tốt. Còn bây giờ là thời của kinh tế thị trường. Đồng tiền đã đi vào mọi mối quan hệ. Người ta thường nói phú quý sinh lễ nghĩa là vì vậy. Thậm chí có những người chưa được phú quý cũng phải cố mà chạy theo lễ nghĩa trong cái xã hội này. Vì vậy, văn hoá phong bì xuất hiện trong nhà trường là điều không thể tránh khỏi. Mà đã là hiện tượng văn hóa thì khó xóa bỏ lắm, dù không ai muốn nó phát triển. Nhà trường cũng là một xã hội thu nhỏ và quan hệ thầy trò cũng có nhiều dạng. Nhưng rốt cuộc đó cũng là một loại quan hệ xã hội. Chúng ta cũng không nên đặt nhà trường, quan hệ thầy trò ra ngoài xã hội; như thế sẽ siêu hình và không thực tế.
Còn  ở nông thôn thì sao? Khó khăn trăm bề, nhất là với những người cao tuổi không còn sức lao động, con cái thì nghèo, kiếm tiền đã khó mà cỗ bàn thì liên miên. Thực tế đã xảy ra nhiều chuyện dở khóc dở cười, nhiều cụ nhà ta khỏe mạnh bình thường nhưng vẫn phải cáo ốm khi có con cháu mời cỗ hay có cụ đang ở trong nhà nghe có người mời lại nói với cháu là đi vắng để rồi đổ tiếng xấu cho con trẻ là có cỗ không mời, trẻ nhà quên không bảo… Các bạn thấy đấy chuyện phong bì không còn của riêng ai nữa. Cụ Phạm Sơn ở Tiến Bào, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh còn viết thành thơ:
Tình cảm ngày nay kể cũng kì
Ai mời uống rượu phải phong bì
Nhiệt tình rỗng túi đành vờ ốm
Sốt sắng không hào ngại chẳng đi
Hỏi vợ lắc đầu không cả nói
Xin con ngậm miệng chỉ ngồi ỳ
Văn minh trả thấy tình thì cạn
Xã hội nên bàn dẹp nó đi.

Tiếng là vậy, nhưng chúng ta phải nhìn nhận vấn đề cho thật công bằng. Bản thân cái phong bì nó không có lỗi mà đúng ra người sử dụng nó mới là đáng bàn. Nó là cánh ứng xử, là văn hóa sống với nhau, thiết nghĩ phong bì về mặt bản chất chỉ là phần vỏ nó đúng cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tôi không phải là nhà triết học nên không có cái bình sâu hơn nhưng với thực tế như vậy tôi muốn gợi mở để chúng ta có cái nhìn đa chiều về một vấn đề. Từ ý đó tôi có bài thơ như sau:
Mang  tên chữ đặt cái phong bì
Sướng khổ ai ơi cứ phải đi
Chọn nghĩa cho nên ôm lấy vạ
Vì tình chẳng ngại tị cùng suy
Danh thơm ngán ngẩm không tìm thấy
Tiếng xấu thôi đành biết nói chi
Thiên hạ làm gì xin phó mặc
Quanh năm ngậm miệng chỉ cười khì.

Tiếp tục với chuyện phong bì, về mặt dân sự có nhiều ý kiến như: thay vì một chức năng duy nhất trước đây là vỏ đựng thư, nay chiếc phong bì về nội hàm cũng chỉ để bỏ tiền, nhưng lại trở thành loại hình đa phương tiện.
Nếu ai đó không tin, hãy liệt kê ra thử mà coi. Đi ăn cưới, dự lễ tang để cho gọn nhẹ, người ta cũng đóng phong bì. Thậm chí, nói bảo ác khẩu, nhưng nhiều gia đình, nhiều cặp cô dâu, chú rể chẳng cần biết có sự hiện diện của bạn bè, người thân ở bàn tiệc ra sao, mà thường điểm danh hoặc kiểm tra “lòng tốt” trong vỏ cái phong bì đó như thế nào khi về nhà. Ai tốt, ai quan hệ tốt biết ngay, cần chi phải đoán theo cách cổ điển “nhìn mặt mà bắt hình dong” cho mệt.
Còn vấn đề xã hội phong bì có thể tạm chia làm mấy loại chính sau:
Loại thứ nhất là đút lót cho quan tham, với mục đích đạt được những quyền lợi bất hợp pháp, thậm chí gây hại cho xã hội.
Loại thứ hai là chi phong bì cho quan chức, nhân viên hành chính, nhằm đẩy nhanh tiến độ xét duyệt cho những quyền lợi hợp pháp.
Loại thứ ba là việc phát phong bì đại trà trong các hội nghị, hội thảo.
Phong bì ngày nay đã trở thành một loại hình văn hóa mới, “văn hóa phong bì”. Giao dịch, quan hệ phong bì bỗng chốc trong xã hội trở thành luật bất thành văn. Không có nó khiến mọi người không yên tâm.
Bằng cái nhìn của người viết thay cho lời kết chỉ mong sao chiếc phong bì mau chóng trở thành câu chuyện của thì quá khứ, là một “tàn dư” của thời kinh tế chuyển đổi.
                                                      

                                                                                                                                              Phó Mộc

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2016

KHÁNH THỌ

         慶
慶 賀
                辛 卯
             阮 碩 田
Phiên âm
             KHÁNH TH
Nhất thế vi sư nhất thế vinh
Thất tuần khánh hạ tráng gia thanh
Thiên ban phúc lộc nhân tăng thọ
Tổ độ khang cường tuệ mãn minh
Tình trọng thi hào lưu nhã thức
Ân ba tôn tử kế tu tinh
Lan bằng thụ sắc khai tâm chúc:
“Thọ tỉ nam sơn, điệp lãng vinh”
           Tân Mão trọng Đông
           Nguyễn Thạc Điền bút
Dịch nghĩa
                     CHÚC THỌ
Một đời làm nghề giáo một đời vinh hiển
Chúc thọ bẩy mươi tuổi rạng gia đình có truyền thống
Trời ban cho phúc lộc người thêm thọ
Tổ độ sức khỏe dồi dào trí tuệ minh mẫn
Tình sâu nặng, thi hào lưu lại ân tình tri thức
Nhớ ơn đức, con cháu kế thừa học tập những điều tốt đẹp
Bạn bè nhận lời mời vui vẻ chúc:
“ Thọ như núi Nam, vẻ vang tựa sóng trùng điệp”
                Giữa mùa Đông năm Tân Mão

                     Nguyễn Thạc Điền viết

* Bài viết chúc thọ ông Nguyễn Văn Chiểu.

ĐI HỘI CHÙA



Ngày ấy tôi đi trẩy hội chùa
Xuân tràn mầu áo sắc xuân đưa
Hương bay bảng lảng vương trên tóc
Lá rụng bên đường, lất phất mưa

Giữa động Tam Thanh thấy bóng hồng
Kìa người năm cũ, phải em không
Vẫn đôi kính trắng, người thon thả
Mắt biếc môi hường lắm kẻ trông

Cái thời non trẻ thủa đôi mươi
Anh chỉ nhìn em chỉ mỉm cười
Đâu dám ngỏ lời, đâu dám nói
Thương thương nhớ nhớ đến ngây người

Hàng ngày lên lớp thoáng nhìn em
Vớ vẩn trong đầu chả vẽ thêm
Giấy mực vương mầu càng rối trí
Trả bài nguệch ngoạc đến lem nhem

Ra trường hai đứa cách hai nơi
Thấm thoắt thoi đưa hết cái thời
Tôi mải công danh lo sự nghiệp
Em thành thiếu phụ vẫn ơi ơi

Hôm nay gặp lại thấy xiêu lòng
Vẻ đẹp dịu dàng mắt sáng trong
Em vẫn là em, em vẫn vậy
Bóng hình lộng lẫy rẽ người đông.

2/3/2014
PM

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

MÙA HOA GẠO


Tháng ba hoa gạo đỏ au
Tuổi thơ sống lại cho nhau một thời
Hồn nhiên nhặt cánh hoa rơi
Đem về ép sách gửi người nhà bên
Thế rồi hai đứa lớn lên
Em theo bố mẹ quên tôi ở nhà
Nhà em xa quá là xa
Anh không gặp được để mà hỏi thăm
Đường dài đã mấy mươi năm
Xem chừng cũng độ cả trăm trăng tròn
Thư đi, thư lại mỏi mòn
Bao nhiêu hẹn ước sắt son đá vàng
Những là dẹp bỏ trái ngang
Những là ấy chuyện lỡ làng thế thôi
Thầm mong em lại với tôi
Cho nhàu tâm sự vơi đôi võ vàng  
Cuộc đời rồi cũng sang trang
Tôi đi lấy vợ còn nàng lên duyên
Hôm nay nhìn lại nhà bên
Vườn không, nhà trống, đất nền xanh rêu
Gạo già rụng lá bao nhiêu
Hoa tàn trước ngõ thêm nhiều vấn vương.

               13/3/2014
                PM   

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

NGHĨA LẬP VÀ NGỌC LÔI

NGHĨA LẬP VÀ NGỌC LÔI
NÉT ĐẸP VĂN HÓA - KẾT CHẠ

                   Về Nghĩa Lập chúng tôi được nghe người dân truyền nhau câu chuyện “kết Chạ” hay còn gọi là kết nghĩa làng chạ - một phong tục có từ rất lâu đời của làng Nghĩa Lập và làng Ngọc Lôi, tới nay vẫn được người dân duy trì, bảo tồn nét đẹp văn hóa làng quê.
          Nói về “kết Chạ”, mấy anh trong Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh cho biết: Phong tục “kết Chạ” có từ rất lâu đời ở vùng đất Kinh Bắc này, mà nguồn cội xa xưa nhất được bắt đầu từ thời người dân ở nơi đây còn thưa thớt, sống heo hút hoang vắng giữa bao la núi rừng và thú dữ. Bởi vậy, dân hai làng cận kề nhau xích lại gần nhau, kết nghĩa anh em để cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất, lao động, chống lại thiên tai địch họa, thú dữ và chia vui sẻ buồn trong cuộc sống.
                    Trở lại với hai làng Nghĩa Lập và Ngọc Lôi, chuyện rằng: Thời xa xưa, làng Nghĩa Lập có tu bổ và xây dựng lại đình. mà vật liệu để xây đình chủ yếu là gỗ lim, khi số gỗ lim được chuyên trở khó khăn bằng đường sông (vì thời đó đường bộ không thuận tiện và không phải là chủ yếu) qua làng Ngọc Lôi, được dân làng Ngọc Lôi ra trợ giúp nhiệt tình. Ít lâu sau ngôi đình làng Nghĩa Lập được xây dựng khang trang tố hảo.  
          Cảm kích trước nghĩa cử của thôn Ngọc Lôi, hai làng quyết định nhận nhau làm anh em. Từ câu chuyện con giúp nhau trở gỗ tình cảm, ơn nghĩa hai làng bắt đầu nảy sinh. Qua thời gian, tình cảm đó ngày càng được vun đắp, xây dựng thêm bền chặt và kết quả là hai làng kết Chạ với nhau. Trong giai đoạn chiến tranh loạn lạc hai bên không có điều kiện qua lại với nhau. Thời gian này đã bị gián đoạn sau hòa bình khoảng thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước đã được dân hai làng nối lại, từ đó đến nay tình anh em hai làng Ngọc Lôi và Nghĩa Lập thường xuyên được duy trì.
          Nét đặc biệt chung của hai bên đều tự nhận mình là em, tôn bên kia là anh. Đó là cách gọi xưng hô khiêm nhường, tôn kính nhau. Từ cách xưng hô đến cử chỉ họ đều trân trọng nhau, chan hoà cởi mở như người trong một nhà. Họ còn quan niệm dân làng hai bên đều là “dân xã cả, anh em một nhà”. Họ cùng quy ước với nhau: trai gái hai làng không được lấy nhau, không gây bất hoà, đối xử với nhau thân tình, giúp đỡ nhau trong sản xuất, lao động, cuộc sống… Hai bên còn cam kết đi lại thăm hỏi nhau vào các dịp lễ tết, hiếu hỉ…
Đội tế của thôn Nghĩa Lập
          Ngày hội của những làng kết nghĩa bao giờ cũng là ngày đông vui nhất vì có cả làng anh sang chung vui. Trong ngày này, những người con xa quê  bao giờ cũng nhớ tìm về hội làng. Trước ngày hội, người người, nhà nhà đều náo nức chuẩn bị. Gói bánh trái, sắm lễ vật lên đình chùa và quần áo là lượt đi đón làng anh. Đặc điểm nổi bật vào ngày hội giữa hai làng kết chạ là cùng tổ chức đoàn đón rước nhau. Đúng giờ quy ước, cả hai làng với đầy đủ thành phần cùng xuất hành từ làng mình tiến sang làng bên. Đến giữa đường gặp nhau, làng anh, làng em cung kính vái chào. Rồi anh trước em sau, cả hai làng cùng tiến vào đình, chùa làng có hội để làm lễ. 
          Họ cùng cầu chúc cho nhau một năm mưa thuận gió hoà, làm ăn tấn tới, tình anh em gắn kết bền chặt. Những lời ca, tiếng hát, những trò vui của ngày hội được làng anh và làng em trổ sức đua tài đến thâu đêm. Tan hội ra về, bao giờ làng em cũng có đoàn tiễn làng anh đúng đến điểm gặp lần trước, cung kính vái chào nhau và hẹn gặp lại mùa sau.
          Kết chạ quả là một nét đẹp văn hóa làng mang đậm bản sắc dân tộc trong đời sống cộng đồng ở làng quê Việt Nam nói chung và hai làng Nghĩa Lập - Ngọc Lôi nói chung…

2/2014
Phó Mộc

NHẤT THẾ ANH TÀI

 世  
世 界
                碩 田 筆
Phiên âm:
    NHẤT THẾ ANH TÀI
Doanh nhân thi sĩ nhất anh tài
Mỹ nghệ vi cơ thị mộc khai
Tứ hải hưng long lưu sản phẩm
Tam giang mậu thịnh xuất chi mai
Giao tình huệ nhãn truyền nhân đức
Thương vụ minh đầu thụ trí nai
Thế giới kim môn tồn sự nghiệp
Duy hinh phát tiết vĩnh vô nhai
              Nguyễn Thạc Điền bút
Dịch nghĩa:
         
                MỘT ĐỜI TÀI GIỎI
Doanh nghiệp, nhà thơ một người tài giỏi
Nền tảng thủ công mỹ nghệ mở ra thị trường đồ gỗ
Hưng thịnh bốn biển lưu thông hàng hóa
Tốt tươi ba sông xuất hiện thương hiệu “Bông Mai”
Tầm nhìn nhân ái kết giao để lại nhiều nhân đức
Tư chất thông minh với công việc thể hiện người có tài.
Ghi nhận sự nghiệp bằng cúp “cổng vàng” Châu Âu
Hương thơm duy nhất phát ra không bao giờ mất.
                                 Nguyễn Thạc Điền viết
Dịch Thơ:
Doanh nhân thi phú đa tài
Xây nền đồ gỗ khảm trai tạo nghề
Thương trường, sản xuất đam mê
Bông mai nở rộ miền quê chạm rồng
Ngoại giao nhân ái kết thông
Thấu tình đạt lý việc công rạng ngời
Cúp vàng lưu giữ cho đời
Hương thơm chỉ một, rộn  trời Á Âu.

CHỊ


Hai tay tôi run run cắm ba nén hương lên bàn thờ, trước di ảnh của chị. Qua làn khói hương mỏng, tôi cảm thấy như chị đang nhoẻn miệng cười với tôi. Vái ba vái, tôi bước tới cái bàn nhỏ đã cũ và ngồi xuống rót trà vào chén, cầm chén trà trên tay hương trà tỏa lên ngan ngát. Mắt tôi nhìn về phía xa như vô tận, những hình ảnh của chị hiện về trong kí ức của thời thơ ấu.
          Chị em tôi lớn lên trong ngôi nhà ọp ẹp, xiêu vẹo. trong nhà không có gì đáng giá, chị Dậu còn có chó để bán nhưng chị em tôi đến mơ cũng khó chứ chưa nói là thành hiện thực. Khi lên một tuổi mẹ bị chết đuối, lúc đó tôi quá nhỏ không thể nhớ được gì hết. Nghe người làng nói mẹ bị điên điên, dại dại đi lung tung gặp gì ăn đấy trông tội lắm. Một hôm mấy bác chài lưới đi kiếm cá sớm phát hiện mẹ bị chết ở mặt chuôm cách làng khoảng một km.
          Từ đó ba bố con tôi dựa vào nhau mà sống, bữa đói bữa no. Bố thì mò cua bắt ốc, kiếm được thứ gì có giá một tí là đổi lấy gạo ăn. Cái dáng gầy gò, ốm yếu thế nhưng bà con trong xóm khiến làm gì bố tôi cũng làm, miễn là có tiền để về nuôi gia đình. Rồi bố cũng ra đi để lại hai chị em tôi không nơi nương tựa. Mới ba tuổi mà tôi đã phải khăn xô hai lượt, áo tang hai lần. Chị hơn tôi năm tuổi, nhưng trông chị lớn hơn tuổi nhiều, do hoàn cảnh khó khăn chị sống trầm lặng, ít nói hơn, nội tâm hơn. có những tối trong bóng đêm đen ngòm, tôi bắt gặp chị đã khóc và khóc thật nhiều.
          Tôi và chị được bà con thương tình, người cho củ khoai, người cho nắm gạo, rồi cũng đủ để chị em tôi lần hồi từng bữa. Với chị em tôi, lúc đó có được bát cơm là hạnh phúc, chứ nói gì đến thức ăn. Càng lớn trông chị càng xinh, da chị trắng hồng, mắt to, đen lay láy. Do hoàn cảnh của chị em tôi như vậy ai cũng thương, nhưng lúc đó vấn đề phân biệt giai cấp vẫn còn nặng nề, chỉ có họ hàng gần với chị em tôi là qua lại nhiều, còn người trong làng họ vẫn ái ngại khi gần chị em tôi. Khó khăn chồng khó khăn, tôi lại là người duy nhất của dòng họ Đinh ở làng, một mình một họ, công việc chính lại do họ ngoại hai bên lo cho chúng tôi.
          Thế rồi hai chị em cũng được đi học. Chị học hơn tôi hai lớp, tuy tôi kém chị năm tuổi nhưng chị học lùi lại ba lớp so với tuổi, bởi vì khi chị đến tuổi đi học gia đình gặp nhiều sóng gió, thế là chị bị chậm mất ba lớp. Chị học thông minh lắm, cũng là cái tuổi lớn hơn cái lớp nên đường học của chị khá dễ dàng. Tôi học không hiểu môn nào là lại vác sách hỏi chị. Chị tôi lại trở thành cô giáo bất đắc dĩ, mỗi lần như vậy chị đều khích lệ tôi học. Những lúc như vậy chị thường nói:
          - Em phải cố gắng học giỏi, mai kia đi công tác có lương đỡ khổ, em ạ!
          - Vâng! nhưng mình làm gì có tiền ăn học, mà lương là gì hả chị?
Chị xoa đầu tôi rồi cười:
          - Chị sẽ đi làm để nuôi em. À! Lương là tiền công người ta trả cho mình.
          - Thế còn chị, tôi hỏi?
          - Tùy cơ ứng biến, em ạ!
Tôi biết nhà tôi nghèo như vậy, có học được cũng khó. Nhưng không ngờ chị tôi nói là làm. Học hết lớp bẩy chị thôi không đi học nữa. Trong hoàn cảnh khó khăn đó hợp tác xã, cân đối và trợ cấp cho gia đình tôi vài chục cân thóc một vụ. Cộng với công điểm của chị được thêm một ít nữa nên cũng đủ ăn. Nói là đủ ăn cho nó oai chứ chị em tôi vẫn phải ăn cháo trắng với muối. Trong làng gia đình tôi vẫn thuộc diện nghèo đói. Tuy có mỗi một lao động là chị nhưng hoàn cảnh nhà thiếu thốn đủ bề. Tôi nhớ có một bữa đong gạo nấu cơm quá quy định, vì lúc đó tôi thì tuổi đang lớn đói lắm muốn bữa ăn nó nhiều hơn mọi ngày một tí nhưng biết đâu là đã ảnh hưởng đến bữa khác. Chị tôi về, khi ngồi vào mâm cơm thấy nhiều hơn mọi ngày, bắt đầu hỏi tôi, tôi nói thật ý định của mình: “vì thương chị đi làm đồng cả ngày vất vả” chị không nói không rằng, chỉ ngoảnh mạt đi mà nước mắt chảy dòng trên gò má. Gạt nước mắt rồi chị nói với tôi:
- Từ bữa sau em không được như thế nữa nhé! Nếu em nấu như thế một tháng tới chị em mình không có gì mà ăn.
- Vâng!
Tôi ấp úng trong miệng không ra tiếng, có lẽ cũng lơ mơ hiểu được nỗi niềm của chị.
Cứ thế rồi hai chị em tôi lớn nên, chị cũng đến tuổi phải lấy chồng. Trong làng có một vài đám đánh tiếng nhưng không hiểu sao chị không đồng ý ai cả. Mãi sau này tôi tìm hiểu ra mới biết. Chị không đồng ý ai bởi vì chị thương tôi còn nhỏ. Chị mà lấy chồng  thì ai lo cho tôi. Lấy chồng phải ăn phận nhà chồng, lúc nào mà quản lý em từng ngày, “để em bơ vơ tội nghiệp.” chị nói với mọi người thế. Tôi biết chị còn yêu một anh cạnh nhà, không biết hai người có hẹn hò gì với nhau chưa, nhưng hôm nghe thấy anh ấy hy sinh ngoài mặt trận phía Bắc, về nhà chị khóc nhiều lắm.
Thấm thoắt thoi đưa, tôi cũng học xong lớp đại học ra trường xin vào làm việc tại huyện ủy, vì biết được gia cảnh nhà tôi mọi người thương nên nhận ngay. Tôi làm cái anh văn phòng chỉ đâu là đánh đó. Còn chị tôi vẫn ở vậy, ngoài ba mươi nhưng vẫn còn trẻ đẹp. Bạn bè  anh em của tôi vào chơi chị rất vui.
Lại có một số đám đến hỏi chị, nhưng lần này không phải là trai tân mà toàn rổ, rá cạp lại. Thực ra vào cái tuổi chị tôi bây giờ không còn thanh niên nào ở độ tuổi đó là phòng không. Làng tôi cứ mười tám, hai mươi là họ đã dựng vợ, gả chồng hết nhẵn rồi, nếu còn lại chỉ ở  dạng  sứt môi, lồi rốn thôi. Người như chị tôi là rất hiếm. Mãi rồi chị cũng đồng ý một đám. Chồng chị có bốn con, ba trai một gái. Nhà chồng chị ở làng bên, anh rể trước đây đi công nhân, giờ đã nghỉ hưu non. con cái cũng phương trưởng cả, vợ cũ của anh bị bệnh chết cách đây mấy năm. tuổi anh cũng xấp xỉ năm mươi, trông còn tráng kiện lắm. Anh chị sống được thời gian, cũng sinh được thằng cu rất kháu khỉnh. Vì bên nhà hoàn cảnh con đông đất thì chật, nhiều sinh hoạt bất tiện. Tôi bàn với anh chị mua lấy miếng đất bên làng mình, để sau này có chị, có em nó gần gận. rồi mọi thứ cũng thành hiện thực anh chị dựng được cái nhà cấp bốn ba gian và một cái sân nhỏ. Hàng ngày chị vẫn sáng đi tối về. chằng là chị vẫn thu tiền vé chợ, cái xuất đó chồng chị lo cho. Chợ làng bên to nhất vùng vì thế lưu lượng người tới chợ cũng đông, bây giờ anh chị cũng có của ăn của để.
Tưởng là “khổ tận cam lai” hết khổ đến ngọt bùi,  ai dè một căn bệnh quái ác đã ập đến với gia đình tôi. Chị bị ung thư tử cung. Thế là hết, tôi thấy như trời sập, mọi thứ hình như không mỉm cười với chúng tôi. Đúng là “chó cắn áo rách” tôi nghĩ, vừa thoát đói một tí thì chị tôi đổ bệnh. Rồi cái gì đến nó cũng đến, chị tôi nằm xuống để lại thằng con lên ba tuổi, nhìn thằng bé thắt khăn xô trên đầu mà ngẫm tới thân mình, cũng  ở độ tuổi nó bây giờ tôi mất cả cha lẫn mẹ.
Tôi ngồi thừ người nhìn ra bụi tre ngoài ngõ, mắt mải dõi mấy con gà con nháo nhác lạc mẹ. mà lòng thấy nhoi nhói đau. Bỗng có tiếng gọi:
- Cậu ơi! cậu…
Rồi thấy như có ai lay lay tay tôi, tôi choàng tỉnh. thì ra cu Bi đầu vẫn thắt khăn xô trên đầu, ở đâu vào nhà lúc nào mà tôi không hay. Tôi giơ hai tay bế nó vào lòng…
                                                                              
 16/10/2012
 Phó Mộc